Cấu trúc xốp của xương gốm

Cấu trúc xốp của xương gốm

Nói chung vật liệu gốm sứ đi từ thô đến mịn có độ xốp giảm dần, từ sành dạng đá thô là trường hợp đặc biệt như đá nói ở bài Phân loại gốm sứ theo cấu trúc và tính chất của xương. Gach ngói có độ xốp cao nhất, sứ có độ xốp thấp nhất. Thông qua độ xốp của xương gố có thể đánh giá vi cấu trúc và một số tính chất kỹ thuật của nó như cường độ, độ hút nước… Cấu trúc xốp được xác định bằng các thông số sau đây:

a) Số lượng lỗ xốp: thể hiện qua độ xốp, bề mặt riêng.

b) Đặc trưng mở hay kín, hướng phân bố, hình dạng mặt cắt lỗ xốp.

Độ xốp tổng Xr được tính bằng công thức

Xr = 1 – (Pv/P)

Trong đó

P: khối lượng riêng, là khối lượng của một đơn vị thể tích vật liệu không có lỗ xốp lớn hơn 1nm.

Pv: Khối lượng thể tích của vật liệu xốp, tức là kể cả lỗ xốp.

Độ xốp mở Xo được xác định bằng cách lấy tích phân đường cong phân bố lỗ xốp (xác định bằng phương pháp xâm nhập thủy ngân, lỗ xốp có kích thước từ 10-4  đến 2.10-9m).

Độ xốp kín

Xr = Xr – X0

Có tài liệu còn đưa ra khái niệm độ xốp mao dẫn Xtương ứng với độ hút nước của vật liệu từ 20°C. Độ xốp mao dẫn khác với độ xốp mờ, vì khi hút nước bên trong các lỗ xốp mở luôn còn một lượng không khí nhất định.

Phân bố lỗ xốp mở thể hiện sự phụ thuộc của độ xốp mở vào kích thước (đường kính) các lỗ xốp. Độ xốp mở thường được xác định bằng các phương pháp sau:

  • Phương pháp hấp thụ ni-tơ nhiệt độ thấp vào các lỗ xốp có kích thước từ 10-9 đến 10-8m.
  • Phương pháp đẩy nước ra khỏi mao quả bằng áp suất không khí, dùng cho các lỗ xốp có kích thước từ 1-500μm.
  • Phương pháp quang học: theo dõi bằng kính hiển vi quang học, dùng cho các lỗ xốp kích thước từ 5.10-3 đến 10-5m (đôi khi đến 10-6m).

 

Leave a comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *